Chào anh
Long,
·
Về câu hỏi của
anh liên quan đến việc giảm vốn điều lệ đối với Công ty TNHH 2 thành viên, chúng
tôi xin trả lời như sau:
·
Căn cứ theo quy
định tại khoản 3 Điều 60 Luật doanh nghiệp, công ty TNHH có từ hai thành viên
trở lên được giảm vốn trong các trường hợp sau:
-
Hoàn trả một phần
vốn góp cho thành viên theo tỷ lệ vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty
nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn hai năm, kể từ ngày đăng ký kinh
doanh; đồng thời vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác sau khi đã hoàn trả cho thành viên;
-
Mua lại phần vốn
góp theo quy định tại Ðiều 44 của Luật Doanh nghiệp;
-
Ðiều chỉnh giảm
mức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản giảm xuống của công ty.
·
Căn cứ hướng dẫn
tại Thông tư số 03/2006/TT-BKH ngày 19/10/2006 của Bộ Kế hoạch và Ðầu tư Hướng
dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định
tại nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006 của chính phủ về đăng ký
kinh doanh thì hồ sơ đăng ký kinh doanh giảm vốn công ty TNHH 2 thành viên trở
lên gồm:
-
Thông báo thay
đổi đăng ký kinh doanh (theo mẫu);
-
Quyết định về
việc thay đổi vốn điều lệ Chủ tịch Hội đồng thành viên;
-
Biên bản họp về
việc thay đổi vốn điều lệ của Hội đồng thành viên;
-
Báo cáo tài chính
của công ty tại kỳ gần nhất với thời điểm quyết định giảm vốn điều lệ (đối với
trường hợp giảm vốn điều lệ);
-
Xuất trình bản
chính và nộp bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh
nghiệp.
Lưu
ý:
Quyết định và
biên bản họp phải ghi rõ những nội dung được thay đổi trong điều lệ công
ty;
-
Số bộ hồ sơ phải
nộp: 01 bộ (t
rong
thời hạn 7 (bảy) ngày làm việc, kể từ ngày quyết định tăng, giảm vốn điều
lệ
)
-
Thời hạn hẹn cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ
hợp lệ.
Hi vọng câu trả
lời trên giải đáp được thắc mắc của anh. Nếu còn bất kỳ vấn đề gì cần trao đổi,
anh có thể liên hệ lại với văn phòng chúng tôi để được hỗ
trợ.
Trân trọng!
Xử phạt vi phạm hành chính làm mất hoá đơn được quy định như sau:
- Tại Khoản 3, Điều 10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định: “Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này mà cá nhân, tổ chức lại thực hiện vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.”
- Tại Mục C, Khoản 2, Điều 11 Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn quy định: “Phải báo cáo ngay bằng văn bản với cơ quan nơi cung cấp hoặc đăng ký sử dụng hoá đơn về việc mất hoá đơn.”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp cơ sở kinh doanh làm mất hoá đơn mà không báo cáo kịp thời với cơ quan thuế, khi cơ quan thuế kiểm tra phát hiện cơ sở kinh doanh làm mất hoá đơn thì phải tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi làm mất hoá đơn. Không áp dụng thời hiệu xử phạt hành chính do cơ sở kinh doanh đã có hành vi trốn tránh việc xử phạt vi phạm hành chính. Trường hợp mất hoá đơn với số lượng lớn không khai báo thì có thể áp dụng biện pháp đình chỉ sử dụng hoá đơn.
Căn cứ quy định tại điểm 1.2.c, Mục III, Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính: Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT.
Trường hợp Công ty mua hoặc nhập khẩu các sản phẩm dược phẩm sản xuất tại Việt Nam và nước ngoài nhưng sau đó phải tiêu huỷ do một số nguyên nhân như hư hỏng, quá hạn sử dụng,... thì Công ty không được khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào của số hàng trên.
Hàng hoá phải tiêu huỷ thì Công ty phải lập hội đồng thanh huỷ trong đó có biên bản xác định rõ mức độ, nguyên nhân và trách nhiệm: biên bản phải ghi rõ số lượng chủng loại, giá trị hàng huỷ, giá trị thanh lý có thể thu hồi được, giám đốc doanh nghiệp ký và chịu trách nhiệm trước các cơ quan có thẩm quyền.
(Theo Tổng Cục Thuế)
Chủ dự án ODA vay ưu đãi và nhà thầu chính thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT nêu tại mục 2 trên đây tiến hành các thủ tục để hoàn thuế GTGT đã nộp với quy trình như sau:
Đối với nhà thầu chính
Nhà thầu chính trong nước sử dụng mã số thuế đã được cơ quan Thuế cấp hoặc đề nghị cơ quan Thuế cấp mã số đối với đơn vị phụ thuộc để giao dịch và làm thủ tục hoàn thuế GTGT GTGT đối với hoạt động xây lắp công trình, cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho dự án ODA không hoàn lại.
Nhà thầu chính nước ngoài đang kinh doanh tại Việt nam, đã được cấp mã số thuế, được tiếp tục sử dụng mã số thuế đó khi làm thủ tục hoàn thuế. Trường hợp nhà thầu chính nước ngoài đã được cấp mã số thuế, nhưng kinh doanh tại Việt Nam theo nhiều hợp đồng thì đề nghị cơ quan thuế cấp mã số thuế riêng như đối với đơn vị phụ thuộc để sử dụng trong các giao dịch mua bán và trong việc hoàn thuế GTGT đối với hoạt động xây lắp công trình, cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho dự án ODA.
Nhà thầu nước ngoài lần đầu tiên tới kinh doanh tại Việt nam hoặc đang kinh doanh tại Việt nam nhưng chưa được cấp mã số thuế phải lập hồ sơ gửi cơ quan thuế địa phương nơi đặt Văn phòng điều hành (đối với các nhà thầu đã có Văn phòng điều hành) hoặc cơ quan thuế địa phương nơi thi công công trình để được cấp mã số thuế. Nhà thầu thực hiện thủ tục đăng ký mã số thuế theo hướng dẫn tại mục II, Thông tư số 05/2005/TT-BTC ngày 11/1/2005 của Bộ Tài chính và theo mẫu số 04-ĐK-TCT, ban hành kèm theo Thông tư số 80/2004/TT-BTC của Bộ TC.
Trường hợp nhà thầu chính là liên danh giữa nhiều bên và mỗi bên thực hiện các phần công việc riêng biệt, các bên tự phát hành hoá đơn đối với phần doanh thu của mình thì cơ quan Thuế cấp mã số thuế cho từng thành viên của liên danh (nếu chưa được cấp mã số thuế). Trường hợp các bên liên danh theo hợp đồng phân chia doanh thu thì cơ quan thuế cấp mã số thuế cho bên liên danh chịu trách nhiệm hạch toán chung kết quả kinh doanh của liên danh. Trường hợp các bên liên danh theo hợp đồng phân chia doanh thu thì cơ quan Thuế cấp mã số thuế cho bên liên danh chịu trách nhiệm phát hành hoá đơn cho Chủ dự án. Trường hợp các bên liên danh thành lập ra ban điều hành liên danh, Ban điều hành thực hiện hạch toán kế toán, có tài khoản tại ngân hàng và chịu trách nhiệm phát hành hoá đơn và nhận thanh toán từ Chủ dự án thì cơ quan Thuế cấp mã số thuế cho Ban điều hành dự án.
Đối với Chủ dự án
Chủ dự án đã đăng ký mã số thuế, sử dụng mã số đó khi giao dịch và làm thủ tục hoàn thuế GTGT. Đối với các chủ dự án mới thành lập, trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận được Quyết định đầu tư của cơ quan có thẩm quyền, chủ dự án lập hồ sơ đăng ký mã số thuế với cơ quan Thuế nơi đặt Văn phòng điều hành dự án như hướng dẫn tại Thông tư số 80/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ TC.
Trường hợp Chủ dự án ODA đã đăng ký mã số thuế nhưng uỷ quyền cho một đơn vị (thường là Ban QLDA) chịu trách nhiệm quản lý và thực hiện hạch toán riêng khoản thuế GTGT đầu vào phát sinh trong quá trình thực hiện dự án bằng nguồn ODA, cơ quan Thuế sẽ thực hiện việc cấp mã số thuế áp dụng đối với đơn vị phụ thuộc cho đơn vị được chủ dự án uỷ quyền. Đơn vị được uỷ quyền lập hồ sơ đăng ký mã số thuế với cơ quan Thuế nơi đặt Văn phòng điều hành dự án theo hướng dẫn tại Thông tư số 80/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ TC.
Hồ sơ và thủ tục hoàn thuế GTGT thực hiện theo hướng dẫn tại điểm 3, Mục II, Phần D, Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 12/12/2003 của Chính phủ.
Đối với Chủ dự án: Hồ sơ hoàn thuế GTGT được gửi đến Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng điều hành của dự án.
Đối với nhà thầu chính: Hồ sơ hoàn thuế GTGT được gửi đến Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng điều hành của nhà thầu chính (đối với nhà thầu có Văn phòng điều hành) hoặc Cục thuế nơi thực hiện xây lắp công trình.
Chủ dự án hoặc Nhà thầu chính thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT, lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT ngay sau khi nhận được hoá đơn thanh toán (đối với các trường hợp việc thanh toán được tiến hành theo định kỳ mà thời gian cách quãng giữa các lần thanh toán dài hơn 1 tháng) hoặc lập hồ sơ hoàn thuế theo định kỳ ít nhất 1 tháng một lần nhưng số ngày cách quãng giữa các kỳ không dưới 10 ngày (Chủ dự án hoặc Nhà thầu chính phải đăng ký trước với cơ quan Thuế về thời gian biểu nộp hồ sơ hoàn thuế).
Trong vòng 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đầy đủ hồ sơ đề nghị hoàn thuế, cơ quan Thuế xem xét và ra quyết định hoàn thuế GTGT.
Trường hợp phải bổ sung hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT thì trong vòng 3 ngày làm việc, cơ quan Thuế phải có văn bản thông báo cho Chủ dự án hoặc Nhà thầu chính.
(Theo Tổng Cục Thuế)
Công ty đăng ký trụ sở hoạt động chính ở địa điểm A, sau đó do yêu cầu hoạt động nên công ty chuyển văn phòng hoạt động chính về địa điểm B (cùng thành phố nhưng khác quận với địa điểm A). Việc chuyển địa điểm này có thông báo bằng văn bản đến Chi cục thuế quản lý và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan. Các hoá đơn đầu vào của Công ty ghi địa chỉ như sau:
Theo quy định tại Điểm 1, Mục V, Phần B Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, quản lý, sử dụng hoá đơn thì trong vòng 10 ngày khi thay đổi địa điểm sản xuất kinh doanh, văn phòng giao dịch, tổ chức, cá nhân phải gửi cho cơ quan thuế sơ đồ, địa điểm mới.
Nếu cơ sở đã thông báo bằng văn bản tới cơ quan thuế và các cơ quan quản lý theo quy định thì hoá đơn đầu vào ghi địa điểm kinh doanh mới là đúng. Các hoá đơn này là căn cứ để cơ sở kinh doanh kê khai thuế giá trị gia tăng đầu vào và hạch toán chi phí.
(Theo Tổng Cục Thuế)
Căn cứ điểm 2, mục V Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ tài chính thì các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có nhu cầu tự in hoá đơn để sử dụng phải có hồ sơ đăng ký gửi nơi đăng ký nộp thuế (Cục thuế hoặc Chi cục thuế), bao gồm:
- Công văn đăng ký sử dụng hoá đơn tự in (đối với tổ chức sản xuất kinh doanh) hoặc đơn đăng ký sử dụng hoá đơn tự in (đối với hộ sản xuấ kinh doanh) theo mẫu.
- Mẫu hoá đơn do tổ chức, cá nhân tự thiết kế, mẫu hoá đơn phải có đầy đủ các chỉ tiêu như: tên tổ chức, cá nhân, địa chỉ, mã số thuế của đơn vị mua hàng; tên hàng hoá dịch vụ, đơn vị tính, số lượng, đơn giá, tiền hàng, thuế suất GTGT, tiền thuế GTGT (nếu có), tổng cộng tiền thanh toán, in theo văn bản số…ngày…năm…của cơ quan thuế và tên nhà in hoá đơn.
Những nội dung đặc thù, biểu tượng của đơn vị có thể được đưa vào mẫu hoá đơn. Nếu tổ chức, cá nhân cần sử dụng hoá đơn song ngữ thì phải in tiếng Việt trước, tiếng nước ngoài sau.
- Sơ đồ các địa điểm sản xuất, kinh doanh; văn phòng giao dịch do tổ chức, cá nhân tự vẽ có xác nhận và cam kết của người đứng đầu tổ chức, cá nhân về: địa chỉ, số nhà, đường phố, các đường phố có liên quan (đối với các thành phố, thị xã) và thôn, xã (đối với nông thôn) để có căn cứ theo dõi giao dịch, quản lý. Khi thay đổi địa điểm sản xuất, kinh doanh, văn phòng giao dịch, trong vòng 10 ngày, tổ chức, cá nhân phải gửi cho cơ quan thuế sơ đồ địa điểm mới. Nếu tổ chức, cá nhân thuê địa điểm sản xuất, kinh doanh, văn phòng giao dịch thì phải xuất trình hợp đồng thuê nhà và bản sao có xác nhận của UBND phường, xã để đối chiếu.
- Các bản sao không phải công chứng: giấy phép đăng ký kinh doanh; chứng minh nhân dân (còn trong thời hạn sử dụng theo quy định của pháp luật) của người đứng đầu tổ chức, cá nhân kinh doanh.
- Giấy chứng nhận đăng ký thuế bản chính kèm theo bản photocopy.
Khi thay đổi mẫu hoá đơn, tổ chức, cá nhân phải đăng ký lại.
Hoá đơn do tổ chức, cá nhân tự in phải đăng ký lưu hành mẫu hoá đơn với cơ quan thuế nơi đăng ký sử dụng hoá đơn bao gồm: ký hiệu, số lượng, số hoá đơn (từ số…đến số…). Cơ quan thuế căn cứ vào nhu cầu sử dụng hoá đơn và việc chấp hành quy định về việc quản lý, sử dụng hoá đơn của tổ chức, cá nhân mà quy định số lượng hoá đơn tự in được đăng ký lưu hành sử dụng theo từng kỳ từ 1 tháng đến 3 tháng. Trước khi in hoá đơn đợt mới phải báo cáo việc sử dụng hoá đơn in đợt cũ và đăng ký in mới với cơ quan thuế về ký hiệu, số lượng, số thứ tự hoá đơn.
Các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không được vừa sử dụng hoá đơn mua của cơ quan thuế, vừa sử dụng hoá đơn tự in. Trong trường hợp đặc thù phải có quyết định của Cục trưởng cục thuế tỉnh, thành phố. Do đó, cơ sở kinh doanh có nhiều ngành hàng phải sử dụng nhiều loại hoá đơn đặc thù để phù hợp với từng mặt hàng, ngành nghề thì phải thiết kế nhiều loại mẫu hoá đơn đặc thù để đáp ứng nhu cầu sử dụng hoá đơn đặc thù của toàn đơn vị.
( Theo Tổng Cục Thuế)
Việc phát hành hoá đơn GTGT đối với các khoản giảm giá, chiết khấu cho đại lý phân phối được hướng dẫn như sau:
Căn cứ theo quy định tại Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, trường hợp Công ty Bayer Việt Nam hỗ trợ các nhà phân phối của Công ty thông qua hình thức giảm giá, chiết khấu bán hàng và thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt cho các nhà phân phối thì các nhà phân phối của Công ty phải lập hoá đơn GTGT, trên hoá đơn ghi rõ là tiền hỗ trợ bán hàng bằng giảm giá chiết khấu của Công ty Bayer Việt Nam, gạch bỏ dòng thuế suất và tiền thuế GTGT.
Trên cơ sở hoá đơn GTGT đã phát hành, các nhà phân phối của Công ty Bayer Việt Nam phải ghi nhận khoản tiền hỗ trợ dưới hình thức giảm giá, chiết khấu này vào thu nhập khác khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Công ty Bayer Việt Nam sử dụng hoá đơn GTGT làm căn cứ để hạch toán chi phí xác định thu nhập chịu thuế TNDN trong kỳ tính thuế.
(Theo Tổng Cục Thuế)
Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN (6/9/2004) của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng có quy định: bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng. Đơn vị bao thanh toán chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu, và chỉ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng giao hàng không đúng như thoả thuận tại hợp đồng mua, bán hàng hoặc vì một lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên bán hàng.
Các tổ chức tín dụng được phép thực hiện hoạt động bao thanh toán trong nước khi có đủ các điều kiện như: tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay tại thời điểm cuối 3 tháng gần nhất dưới 5%, không thuộc đối tượng đang bị xem xét xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
(Theo Tổng Cục Thuế)
1. Về các chi phí trước hoạt động thành lập doanh nghiệp:
Theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 (ban hành kèm theo Quyết định số 149/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính) và Thông tư số 55/2002/TT-BTC ngày 26/6/2002 của Bộ tài chính thì chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên và chi phí quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động của doanh nghiệp mới thành lập được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ hoặc được phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian tối đa không quá 03 năm. Chi phí xây dựng, mua sắm máy móc, thiết bị…sẽ được vốn hoá trực tiếp vào tài sản cố định hữu hình là nhà, xưởng, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị.
Để được ghi nhận là chi phí hợp lệ của doanh nghiệp, các chi phí trước hoạt động nêu trên phải có đầy đủ hoá đơn, chứng từ hợp lệ theo quy định tại Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, quản lý, sử dụng hoá đơn.
2. Về việc góp vốn của chủ đầu tư:
Để các chi phí trước hoạt động này được công nhận là phần vốn góp, thì ngoài việc phải được ghi nhận là chi phí của doanh nghiệp như nêu trên, các chi phí trước hoạt động này phải phù hợp với quy định tại các Điều 22, Điều 23 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ : Vốn đầu tư, vốn pháp định; phương thức, tiến độ thực hiện vốn phải được quy định tại Điều lệ doanh nghiệp và phải được Cơ quan cấp giấy phép đầu tư công nhận (được ghi cụ thể trong Giấy phép đầu tư cấp cho doanh nghiệp).
( Theo Tổng Cục Thuế)
Theo quy định tại điều 30 Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kế toán trong hoạt động kinh doanh thì tài liệu kế toán phải lưu trữ tối thiểu 05 năm. Tài liệu kế toán phải lưu trữ tối thiểu 05 năm là tài liệu kế toán dùng cho quản lý, điều hành bình thường không sử dụng trực tiếp để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
Căn cứ quy định nêu trên, các doanh nghiệp thường là hoạt động kinh doanh dịch vụ, nội bộ doanh nghiệp có sử dụng hoá đơn dạng vé có in sẵn mệnh giá như: vé trông xe máy, ô tô, vé tham quan, vé xông hơi, vé hành khách…để quản lý trong lĩnh vực kinh doanh của mình với số lượng lớn, tuy không sử dụng vé in sẵn mệnh giá để trực tiếp ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính, nhưng theo quy định doanh nghiệp vẫn phải lưu trữ liên lưu, liên kiểm soát của vé tối thiểu là 05 năm.
(Theo Tổng Cục Thuế)
Việc sử dụng hoá đơn bán lẻ in ra từ máy tính tiền tại các siêu thị được quy định như sau:
Tại Điểm 7, Mục I, Phần B Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính phủ về in, phát hành, quản lý, sử dụng hoá đơn quy định: “Tổ chức, cá nhân sử dụng máy tính tiền để bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tại các cửa hàng, quầy hàng, siêu thị phải sử dụng hoá đơn bán lẻ (sử dụng cho máy tính tiền). Hoá đơn bán lẻ sử dụng cho máy tính tiền do Bộ tài chính phát hành hoặc tổ chức, cá nhân tự in đăng ký với Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Mẫu hoá đơn bán lẻ sử dụng cho máy tính tiền phải có các chỉ tiêu như: tên, địa chỉ, mã số thuế đơn vị bán hàng, số lượng, đơn giá, thành tiền, thuế suất thuế GTGT, tiền thuế GTGT. Hoá đơn phải có từ 2 liên trở lên, liên 1: lưu, liên 2: giao khách hàng”
Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, tất cả các cơ sở kinh doanh có cửa hàng, siêu thị…sử dụng máy tính tiền để bán lẻ hàng hoá, dịch vụ thì phải sử dụng hoá đơn bán lẻ tự in sử dụng cho máy tính tiền. Hoá đơn bán lẻ sử dụng cho máy tính tiền được sử dụng làm căn cứ tính thuế.
Các Cục thuế tiến hành rà soát toàn bộ các cơ sở kinh doanh có cửa hàng, siêu thị…sử dụng máy tính tiền để bán lẻ hàng hoá và thông báo yêu cầu các đơn vị thực hiện việc đăng ký sử dụng hoá đơn bán lẻ tự in sử dụng cho máy tính tiền theo đúng quy định hiện hành. Đối với các cơ sở kinh doanh cố tình không chấp hành việc sử dụng hoá đơn bán lẻ sử dụng cho máy tính tiền thì tiến hành xử phạt theo chế độ quy định.
( Theo Tổng Cục Thuế)
Căn cứ Luật thuế GTGT, Luật thuế TNDN và Công văn số 3025 TCT/NV6 ngày 12/7/2000 của Tổng cục thuế về hoá đơn, chứng từ đối với chi phí điện, nước, điện thoại thì: Trường hợp Công ty ký hợp đồng thuê nhà của hộ gia đình làm trụ sở kinh doanh, trong hợp đồng thuê nhà phải ghi rõ Công ty chịu trách nhiệm thanh toán tiền điện do Công ty dùng (chi phí thuê nhà có hoá đơn hợp pháp) và thực tế đã chi trả, có phiếu chi tiền đúng với số tiền ghi trên hoá đơn GTGT thanh toán tiền ghi tên chủ nhà (người ký hợp đồng) thì Công ty được căn cứ vào hoá đơn kèm theo chứng từ thanh toán để khấu trừ thuế GTGT và tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN theo quy định.
Trường hợp Công ty sử dụng mặt bằng vừa là nơi cư trú, cũng vừa là nơi sinh hoạt của gia đình, để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, có sử dụng điện kế, thuỷ kế thì phải tách riêng được phần điện, nước dùng cho sản xuất kinh doanh (phải có hoá đơn GTGT tiền điện, nước riêng hoặc bản phân chia tiền sử dụng điện, nước cho sinh hoạt, cho sản xuất kinh doanh của cơ quan quản lý điện, nước) thì được tính khấu trừ thuế GTGT và được tính vào chi phí hợp lý để xác định thuế TNDN. Trường hợp không tách riêng được thì không đủ căn cứ để tính khấu trừ thuế GTGT và không được tính vào chi phí hợp lý để xác định thuế TNDN.
(Theo Tổng Cục Thuế)
Theo quy định tại điểm 5.8, mục IV, phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT thì:
Trường hợp Công ty giao hàng hoá cho các hộ kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp bán đại lý nhưng do hàng hoá sai quy cách, kém phẩm chất, kém chất lượng,…Công ty phải nhận lại (hoặc bị trả lại) thì Công ty cùng bên nhận đại lý phải lập biên bản ghi rõ loại hàng, số lượng, giá trị hàng hoá trả, nhận lại theo các hoá đơn Công ty đã xuất cho đại lý (số, ký hiệu, ngày tháng của hoá đơn), lý do trả lại kèm theo liên 2 các hoá đơn đó. Sau đó Công ty lập hoá đơn mới theo đúng chủng loại, số lượng, giá trị hàng hoá bên giao đại lý thực nhận thay thế cho các hoá đơn đã thu hồi về. Bên bán thu nhận hàng hoá trả lại và hoá đơn mới được dùng làm căn cứ điều chỉnh kê khai thuế GTGT, thuế TNDN. Việc lập biên bản nhận lại hàng hoá trả lại và xuất hoá đơn mới thay thế, Công ty có thể thực hiện theo tháng, quý, năm tuỳ điều kiện của Công ty.
( Theo Tổng Cục Thuế)
Tại Điểm 5.14, Mục IV, Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT hướng dẫn: “Cơ sở cho thuê tài chính cho thuê tài sản thuộc đối tượng chịu thuế GTGT phải lập hoá đơn theo quy định…Các trường hợp tài sản mua để cho thuê không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, không có hoá đơn GTGT hoặc chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu thì không được ghi thuế GTGT trên hoá đơn”.
Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên thì Công ty cổ phần thép A có thuê mua một tài sản cố định không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT của Công ty thuê tài chính B thì Công ty thuê tài chính B phải xuất hoá đơn thuê mua tài sản cố định nhưng dòng thuế GTGT gạch chéo
( Theo Tổng Cục Thuế)
Sử dụng hoá đơn đối với các trường hợp doanh nghiệp giải thể được hướng dẫn như sau:
1. Các đơn vị đã giải thể, đã quyết toán trả lại hoá đơn GTGT, cơ quan thuế chưa kiểm tra quyết toán thuế và chưa đóng mã số thuế, nếu đơn vị có nhu cầu sử dụng hoá đơn để bán nốt số hàng hoá còn lại thì cơ quan thuế xem xét bán hoá đơn quyển và đơn vị kê khai bổ sung quyết toán thuế.
2. Trường hợp các đơn vị giải thể cơ quan thuế đã quyết toán thuế, đã đóng mã số thuế, nếu có nhu cầu sử dụng hoá đơn thì được cấp hoá đơn lẻ.
3. Đối với các Trung tâm bán đấu giá tài sản do tổ chức, cá nhân uỷ quyền thì phải xuất hoá đơn cho số tiền thu về dịch vụ bán đấu giá tài sản. Trung tâm được sử dụng hoá đơn GTGT nếu đăng ký kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế hoặc sử dụng hoá đơn bán hàng thông thường, nếu Trung tâm đăng ký kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
Đối với tài sản đã bán đấu giá cho người mua thì tổ chức, cá nhân kinh doanh có hàng hoá gửi bán đấu giá phải xuất hoá đơn theo quy định. Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh không có hoá đơn để xuất cho khách hàng thì cơ quan thuế cấp hoá đơn lẻ (loại hoá đơn bán hàng) và phải kê khai nộp thuế theo quy định.
(Theo Tổng Cục Thuế)